Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

II-4-3.b ĐĐTVK quyển 8&9

ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỰC KÝ 
QUYỂN 8 & QUYỂN 9
(大唐西域記卷第八 & 大唐西域記卷第九)

[Đi qua 01 nước]
MAGADHA (MA KIỆT ĐÀ) [ PATNA (HOA THỊ THÀNH)- RAJAR (VƯƠNG XÁ)]
Cương vực lãnh thổ Ma-kiệt-đà

→ Sau khi qua sông Gange, Huyền Trang đi hướng Nam đến nước Magadha (Ma-kiệt-đà摩揭陀). Đất đai màu mỡ dễ trồng trọt, người dân ở miền cao. Sau mùa hạ trước mùa thu dân thường bơi thuyền trên sông. Có hơn năm mươi ngôi chùa, mười ngàn tăng sĩ. Phía nam sông Hằng có một thành cổ nay đã hoang phế vì sau khi Phật Niết-bàn một trăm năm, vua A Dục cháu vua Tần-bà-sa-la, dời đô về Pataliputra (Pāṭaliputra).
Ma-kiệt-đà, thành Vương Xá có nhiều thánh tích. Vương Xá ở vị thế hiểm yếu ba bên núi bao bọc, nên khí hậu rất nóng. Có nhiều suối nước nóng.
- Khi đức Phật còn là Thái tử bắt đầu đi tìm đạo, đầu tiên đi ngang thành này, vua mời ở lại, chia nửa nước để cùng nhau trị vì. Thái tử từ chối, vua xin sau khi đắc đạo hãy về thăm. Sau này Đức Phật thường ghé thành này.
- Nhiều bài kinh mở đầu bằng địa điểm thuyết pháp nơi thành Vương Xá.
- Ngự y của vua là Jivaka dâng cúng một vườn xoài, hiện chỉ còn những hành lang hẹp.
- Rājagṛha (Vương Xá) là nơi Phật thu nhận hai người đệ tử bậc nhất là Trí tuệ bậc nhất Śāriputra (Xá-lợi-phất舍利弗) vàThần thông bậc nhất Maudgalyāana (Mục-kiền-liên目犍連).
Nơi Hoa Thị Thành, vua A Dục bảo trợ kết tập kinh điển lần thứ III. Huyền Trang lưu lại 7 ngày để chiêm bái các thánh địa.
Pataliputra (Pāṭaliputra, Hoa Thị Thành華氏城, Ba-tra-li-tử波吒釐子) đô thành của Ma-kiệt-đà tại Trung Ấn, vị trí ở tả ngạn sông Hằng tức bờ Nam sông Hằng, nay là Patna (Paṭnā, Ba-đặc-nạp-thị巴特納市). Ba-tra-li-tử波吒釐子 nguyên là tên cây, thành này trồng rất nhiều loại cây đó nên được tên.
Patna vị trí 25.350Bắc 85.120Đông là thủ đô của bang Bihar, Ấn Độ. Patna nằm bên bờ Nam của sông Ganges nơi hợp dòng của các sông Ghagra, Sona và Gandak. Sông Ganges (sông Hằng) nơi đây có vẻ giống biển hơn sông, nó hùng vĩ, bao la bất tận. Thành phố dài 25km, rộng khoảng 10km.
Tượng Phật bằng đá trắng tại Bihar
 Vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà摩揭陀) là vùng Patna (Ba-đặc-na巴特那) tức Hoa Thị thành華氏城 và Gaya thuộc phía nam Bihar (Bỉ-cáp-nhĩ比哈爾), và một phần Tây Bengal. Phía Bắc là sông Ganga (sông Hằng), phía Đông là sông Champa, phía Nam là núi Vindhya, phía Tây là sông Sona. Thời Đức Phật, nó bao gồm luôn Anga (Tây Bengal).
Đô thị cũ Pāṭaliputra tại Magadha
 Magadha là một nước lớn được gọi là Mahājanapadas hoặc vùng cổ của Ấn Độ. Đó là một vương quốc chính yếu trong bang Bihar, nằm phía Nam sông Hằng, với thủ đô là Rajagriha (Vương Xá), hiện nay là Rajgir (Lạp-tra-cơ-nhĩ拉查基爾). Sau đó thủ đô dời về Patna.
Thời Đức Phật, vua trị vì là Bimbisara (Tần-bà-sa-la頻婆娑 羅), con trai là Ajātaśatru (A-xàthế 阿闍世), thân mẫu là Vaidehī (Vi-đề-hi韋提希). Sau khi Phật diệt độ, vua A-xà-thế ân hận lỗi xưa với phụ vương, quy y và hết lòng hộ trì chánh pháp.
Kinh điển kết tập lần thứ nhất tại hang Thất Diệp七葉窟, trong núi Vebhara (Tì-bà-la) gần thành Vương Xá. Vua ra lệnh xây tinh xá mới để làm hội trường kết tập. Hội nghị gồm 500 vị A-lahán, Tôn giả Ma-ha ca-diếp làm thượng thủ. Lần này không có bút ký mà chỉ hợp tụng. Lần kết tập này được gọi “Vương Xá thành kết tập” hay “Ngũ bách kết tập”.
Đường đi đến hang Thất Diệp
Thạch động Sattaparani (hang Thất Diệp) trên đồi Vaibhara
Trong kinh Đại thừa có nói nơi thành này, Phật giảng thuyết kinh Quán Vô Lượng thọ觀無量壽 cho bà Vi-đề-hi. Pháp môn Tịnh Độ khởi nguyên từ đây.
Kinh điển kết tập lần thứ III tại Pataliputra do vua Asoka (A Dục), vương triều Maurya (Khổng Tước) bảo trợ vào năm 253BC (trước công nguyên). Lần kết tập này có cả ngàn Tỳ-kheo, kết tập thêm bộ sách Luận A Tì Đàm (Thắng Pháp Luận). Nhờ vậy kinh tạng Pali được bảo tồn đến ngày hôm nay.

→ Đi sáu bảy do tuần về hướng Nam đến chùa Tila (Thị-la-thíchca 鞮羅釋迦Ti-lo-tse-kia). Trong chùa có nhiều cao tăng, pháp sư cư ngụ tại đây, nghe Pháp sư Huyền Trang đến, họ đều ra nghênh đón. Tăng chúng cả ngàn người tu tập theo Đại thừa.
Từ chùa này về hướng Tây nam có dãy núi lớn, cách phía Bắc hơn ba mươi dặm có chùa Cù-na-mạt-để瞿那末底 (Đức Tuệ德慧) tu tập theo Đại thừa. Chùa này được nhà xây dựng để ngài Đức Tuệ xiển dương Phật pháp. Ngài Đức Tuệ là một trong mười vị Đại luận sư Duy thức, đã chiết phục được ngoại đạo Ma-đạp-bà摩沓婆 tại nước này.
Từ chùa Đức Tuệ về hướng Tây nam hơn hai mươi dặm đến dãy núi cao, có chùa Thi-la-bạt-đà-la尸羅跋陀羅 (Śīlabhadra, Giới Hiền戒 賢).
Khổ hạnh lâm

→ Rời chùa, Huyền Trang đi về hướng Tây nam khoảng năm mươi dặm qua sông Ni-liên-thiền尼連禪 (Nairañjanā) đến thành Gaya (Già-da伽耶Kia-ye). Cách Tây nam thành năm sáu dặm có núi Già-da. Núi nhiều sông suối hang động, gọi là Linh Sơn靈山. Trên đỉnh núi có tháp đá do vua A Dục lập nên.
Qua sông lớn đến núi Bát-la-cấp-bồ-đề缽羅笈菩提 (núi Tiền Chánh giác前正覺山) đi tiếp mười lăm dặm đến cây Bồ-đề nơi Phật đắc đạo.
Ngài dừng lại 9 ngày để chiêm bái các thánh địa lân cận.

Bồ-đề đạo tràng

Bodh Gaya (Bodhgaya, Baudha Gaya) là thành phố vùng Gaya trong bang Bihar, Ấn Độ. Vị trí 24.6951020Bắc 84.991275Đông, cách núi Linh Thứu 50km đường bộ về hướng Tây nam.
Khi ngài Huyền Trang đến đây đã cho biết “Người ta xây tường cao kiên cố khu vực chung quanh cây Bồ-đề. Cổng chính về hướng Đông, nhìn ra dòng Ni-liên-thiền”. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, đến lúc vua A Dục mới lên ngôi đã chặt phá cây, đào bật gốc quăng bỏ, những rễ còn sót lại mọc lên như cũ. Vua hối hận cho chăm sóc cây lại như cũ. Về sau lại có những vua khác tín ngưỡng ngoại đạo lại cho chặt cây, lúc đó là đời cháu vua A Dục. Khi cây nẩy mầm mới, vua sợ người phá hoại nên cho xây tường đá bảo vệ. Huyền Trang đến thì cây vươn lên trên bờ tường hai trượ
ng.
Con tem hình Bồ Đề Đạo Tràng
Đây là một trong tứ động tâm (Bodhgaya (Bồ- đề đạo tràng), Kushinagar (Câu-thi-na nơi Phật nhập diệt), Lumbini (Lâm tỳ-ni nơi Phật đản sanh), và Sarnath (vườn Lộc Uyển nơi Phật chuyển pháp luân)).
Khổ hạnh lâm
 Núi Bát-la-cấp-bồ-đề缽羅笈菩提Po-lo-ki-puti (Prāgbodhi, Tiền Chánh giác前正覺山), nơi Đức Phật tu khổ hạnh trong sáu năm. Sau đó đi về hướng Tây nam đến cây Tất-bát-la (cây Bồ -đề) bên dòng sông Ni-liên.
Sông Ni-liên-thiền
 Sông Ni-liên-thiền尼連禪Ni-lien-shen (Nairañjanā, Nilajana) nay là (Phalga). Ni Liên vốn là chi lưu của sông Hằng, phía Đông thành Già-da伽耶Kia-ye, thuộc nước Makiệt- đà, miền Trung Ấn. Dòng từ hướng Nam chảy về hướng Bắc. Sông bắt nguồn từ Simeria (Tây-mỹ-lợi-á西美利亞), thuộc vùng Hazaribagh (Hợp-lí-ba-cổ哈札里巴古), bang Jharkhand (Giả-khảm-đức賈坎德), chảy đến hướng Bắc của Già-da cùng với sông Mohanā (Mạc-hãn-na莫罕那) hợp lại, sau đó chảy về hướng Đông của Patna (Ba-đặc-na巴特那) và nhập vào sông Hằng.

Vào ngày thứ 14 HuyềnTrang được rước về chùa Nalanda, và được tiếp đãi trọng hậu. Ở chùa này Ngài đến thăm ngài Giới Hiền戒賢 (Śīlabhadra). Đây là năm 631. Như lời ngài Huyền Trang thuật, Luận sư Giới Hiền đã sống 106 tuổi để chờ Huyền Trang đến truyền dạy Duy thức. Khi Huyền Trang đến, chùa này đã 700 năm nhưng giới luật rất nghiêm minh và nề nếp, tăng chúng đông khoảng mười ngàn người, học theo Đại thừa.
Biểu đồ truyền thừa Tông Duy Thức:
Vô Trước無著 (Asaṅga) → ThếThân世親 (Vasubandhu) → Trần Na陳那 (Dignāga) → Hộ Pháp護法 (Dharmapāla) → Giới Hiền戒賢 (Śīlabhadra).
Nền cũ Nalanda
Nālandā (Na-lan-đà那爛陀) là trường Đại học cổ xưa của Ấn Độ, cách Đông nam Patna 70km, cách phía Bắc của Vương Xá 11km.Nalanda xây cất trong thế kỷ thứ II. Long Thọ xuất hiện trong thế kỷ này, tu học tại đây, sau làm viện trưởng nơi này. Ngài Long Thọ là tổ Thiền tông thứ 14. Đây cũng là nơi truyền bá của hai trường phái Trung Quán Tông và Duy Thức Tông.
Nālānda theo tiếng Sanskrit có nghĩa trao truyền kiến thức.Cuối thế kỷ XII, Nalanda bị tàn phá chung số phận với Ma-kiệt-đà, và mới khôi phục lại sau này. Nhờ vào sự khai quật của Alexander Cunningham, xác định được vị trí 25.135766 độ Bắc 85.444923 độ Đông.
Chùa Nalanda
Nền cũ trường Nalanda

Một thời gian sau, Huyền Trang tạm ngưng việc nghiên cứu, bắt đầu đi thăm viếng các thánh tích. 
Huyền Trang đi về phía Bắc, đến Rajagrha chiêm bái Linh Thứu Gṛdhrakūṭa (Cô-lặc-đà-la-củ-tra姞栗陀 羅矩吒) và rừng trúc Kalandaka (Trúc Lâm). - Núi Linh Thứu靈鷲山 (Gṛdhrakūṭa, dịch âm Kỳ-xà-quật耆闍 崛) cách Vương Xá về phía Đông bắc chỉ vài cây số. Còn gọi là Linh Sơn hay Thứu Sơn vì núi giống đầu chim ó.
Núi Linh Thứu
Theo kinh điển Đại thừa, Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa法華 tại đây.Đây là một trong năm ngọn núi nổi tiếng trong thành Vương Xá (nay là Rajgir). Nhiều đạo sĩ ẩn tu trong các hang động nơi núi này.
Theo sử Thiền Tông, công án “Niêm hoa vi tiếu拈華微笑” xảy ra trên ngọn Linh Sơn này. (Nơi núi Linh Thứu, Thế tôn thăng tòa, đưa cành hoa lên, không nói. Đại chúng không hiểu ý chỉ, riêng có Ma-ha ca-diếp mỉm cười. Thế Tôn bảo với đại chúng rằng: Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, chẳng lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp).
Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu,
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp,
Đạt đáo Linh Sơn giải hận sầu.
Rừng trúc
- Trúc Lâm Tinh xá竹林精舍 (Veṇuvana-vihāra), còn gọi là Ca-lan-đà Trúc Viên迦蘭陀竹園 do trưởng giả Ca-lan-đà (Kalandaka) cúng rừng trúc, vua Tần-bà-sa-la xây tự viện. Đây là một trong hai tự viện đầu tiên của chúng tăng.
Venuvana

Sau khi thăm viếng thánh tích ngài trở về Nalanda học đạo với Luận sư Giới Hiền.
Nơi đây Huyền Trang học Du Già Luận瑜伽論, Thuận Chánh Lý順正理, Hiển Dương Luận Pháp顯揚論法, có những bộ luận Ngài đã học tại Ca-thấp-di-la nay hiểu rõ thêm và giải những nghi vấn từ trước. Ngài học thêm Bà La Môn thư婆羅門書 và Phạn thư印度梵書.

Huyền Trang ở lại Na-lan-đà 5 năm.

Truy cập