Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Tổng mục DÕI BƯỚC HUYỀN TRANG

Các bạn thân mến,

Chúng ta đã cùng nhau theo bước Tam tạng Huyền Trang tây du trong thời gian qua. 

Mười bảy năm gói trong những trang sách, với những đoạn đường gian nan trên những đỉnh núi tuyết. Khi post lại chúng tôi cũng bồi hồi cảm động trước chí quyết của người xưa.

Tập sách này soạn xong vào năm 2007, thời điểm đó tài liệu về những di tích chưa được khai quật nhiều, nên còn nhiều thiếu sót.

Chân thành cảm tạ các bạn đã ghé thăm, cùng dõi bước người xưa với chúng tôi.
Mục Lục 




























Dõi bước Huyền Trang
Mục Lục 

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Lời giới thiệu về buổi học


Ghi lại lời giới thiệu của Ni sư Như Đức
về buổi học Dõi Bước Huyền Trang

Lớp học của mình hôm nay học về sử. Và ý định là nói về ngài Huyền Trang, cũng là ý định rất lâu. Bởi vì cuộc đời của Ngài có nhiều tấm gương mà mình thấy nếu không phổ biến trong Đại chúng thì rất là uổng.
Với tinh thần học hỏi, tinh thần vì đạo pháp của ngài Huyền Trang đây là một điều chúng ta cần biết, giống như một tấm gương của người xưa mà mỗi khi học, mình có cảm giác cái gì đó khích lệ và nâng đỡ tinh thần của mình rất nhiều.
Môn này thật ra coi như là một sáng tác của thiền viện mình vì chưa có lớp học nào học kỹ về ngài Huyền Trang. Tinh thần học của thiền viện mình là tinh thần học có tính cách tự do. Nên thấy cái gì hay cái gì quý thì mình học.
Về con người của ngài Huyền Trang.
Nguồn cội của đạo Phật của giáo lý nằm tận Ấn Độ. Mà thời trước, thời của Ngài khoảng năm sáu trăm mấy, cách chúng ta ngàn mấy trăm năm, gần hai ngàn năm, thì khoảng cách giữa Ấn Độ và Trung Hoa, giữa Ấn Độ và các nước vùng Đông Nam Á này là những khoảng cách rất lớn. Nên những tinh túy Phật học, những cái gọi là nôi văn hóa thì miền Á Châu có hai nơi gọi là Trung Tâm Văn Hóa cổ đại là Ấn Độ và Trung Hoa. Giữa Ấn Độ và Trung Hoa bị ngăn cách bởi những dãy sa mạc và núi tuyết của vùng Trung Á. Cho nên những gì tinh túy của vùng này không đến được với vùng kia chỉ trừ khi theo chân các vị cao Tăng và các thương buôn của con đường tơ lụa. Thì mới có cái gì chút ít gọi là tinh ba văn hóa. Trong đó tinh ba văn hóa Phật học là một cái tinh túy lớn nhất. Nếu mà chúng ta không biết đến những tinh túy đó, không biết đến những cái hay cái đẹp đó là một điều thiếu thốn vô cùng.
Tôi thì chủ trương như thế này, mình tu là để tìm ra cái hay cái đẹp của chính mình, cái tinh túy của chính mình. Cái mà mình gọi là bỏ qua hết, gạn lọc hết những cái dở xấu, những phần thô, những cái đãi cát tìm vàng, những cái thô, cái dở, cái xấu của mình đãi hết, mình lọc hết, để nhận ra một chất rất quý báu, chất đó trong nhà Phật gọi là viên ngọc, viên ngọc Phật tính ở trong tâm chúng ta. Viên ngọc đó, tinh túy đó, muốn gạn lọc nó chúng ta phải học hỏi rất nhiều, nếu không có những bản kinh, những sách vở, những lời dạy của các bậc đã chắt lọc được cái tinh túy của mình mà truyền trao lại cho chúng ta, thì chúng ta rất là lúng túng, chúng ta không biết mình phải gạn lọc mình như thế nào.
Cho nên mỗi khi gặp những tác phẩm hay, mỗi khi gặp những cuộc đời xuất sắc, tôi đọc rất là cảm động. Và trong những cuộc đời hay nhất mà tôi luôn luôn chiêm ngưỡng và luôn luôn mang ơn, một là ngài La Thập, hai là ngài Huyền Trang. Vì sao? Vì hai vị đó đã có công đem tinh túy của Ấn Độ từ văn học tiếng Phạn chuyển sang văn học Trung Hoa. Nếu không có cái thông dịch đó, cái chuyển tải đó thì văn học Trung Hoa sẽ bị mất một phần rất lớn cái tinh ba của nhân loại.
Cái tinh ba, cái hay cái đẹp cái chất ngọc của nhân loại trong lời dạy của đức Phật, nằm ở Ấn Độ, mà nếu từ Ấn không dịch qua Trung Hoa thì chúng ta bị thiệt thòi rất lớn. Mà giữa hai nền văn học Trung Hoa và Ấn Độ có những nét tương phản với nhau rất nhiều. Thứ nhất ngôn ngữ của Ấn Độ là ngôn ngữ đa âm, cũng như tiếng Pháp, tiếng Anh. Ngôn ngữ của Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn... là ngôn ngữ đơn âm. Rồi tinh thần của Ấn Độ và Trung Hoa cũng khác nhau rất nhiều. Nhưng nếu không có các vị dịch kinh thì hẳn hôm nay chúng ta phải chuyển qua học Phạn ngữ mới hiểu được hết các bộ kinh của Phật. Nếu không có những bộ kinh đó thì tôi cũng không biết nói tâm hồn của mình nó ra làm sao, nếu mình không đọc được, không nghe dạy, mình không được giải thích, không có kho tàng đó thì tâm của mình kho tàng tri thức và phần tu của mình bị thiếu sót rất nhiều.
Quý vị cũng biết nền Thiền học Việt Nam của mình từ thời các vị Tổ như Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Vô Ngôn Thông cho đến thời Lý thời Trần chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Các vị thiền sư của mình mở miệng ra là nói thơ Trung Hoa, đọc chữ Hán, học chữ Hán, đó là một phần gia tài của mình rồi, thành ra cái này cũng là một nhân duyên.
Cho nên hai vị có công chuyển dịch đem tinh túy từ tiếng Phạn chuyển qua Trung Hoa lớn nhất đó là La-thập và Huyền Trang.
Ở đây chúng ta chỉ nói đến tinh thần của Ngài, vì sao Ngài lại phải cất công đi xa đến như vậy. Đó chính là tinh thần quý trọng Phật pháp của ngài Huyền Trang. Khi Ngài mới 13 tuổi Ngài muốn xuất gia. Quan Lý Khanh Trịnh Thiện Quả hỏi Ngài, ông xuất gia ý muốn để làm gì. Ngài đáp, ý muốn xa thì nối gót Như Lai, gần thì làm cho Phật pháp chiếu rạng. Cho nên mục đích xuất gia, mục đích đi từ Trung Hoa sang Ấn Độ đó là tinh thần cầu học, đó là tinh thần quý trọng Phật pháp. Vì Ngài muốn lời dạy của đức Phật phải được hiểu chính xác rõ ràng. Chớ không đi tới nơi thu thập những tinh túy đó thì không biết được ý chính đích thật của nó như thế nào, mà không biết được ý chính đích thật thì truyền lại cho người sau bị sai lệch. Ý Ngài không muốn điều đó cho nên Ngài cất bước ra đi. Cũng có nhiều vị Tăng mà người ta gọi là “nhập Trúc cầu pháp”, nhưng mà cũng có thể lượng cung cấp và cơ duyên không bằng ngài Huyền Trang. Cho nên khi ngài Huyền Trang về nước Trung Hoa dưới thời nhà Đường là một thời văn hóa thịnh trị, vua Đường Thái Tông lại là một người rất quý trọng ngài HuyềnTrang, xây dựng một cung riêng để Ngài ở và dịch kinh coi như tài trợ cung cấp hết những nhu cầu cần thiết cho dịch trường của Ngài.
Hai người được nhà vua bảo hộ thành công là ngài La-thập và Huyền Trang. Chúng ta thấy đời sống và sinh hoạt của tăng chúng thời đó nếu được vua bảo trợ và tài trợ thì mới thành tựu tốt đẹp.
Tư tưởng Phật học nếu Ngài không đem bộ Đại Bát Nhã về dịch, nếu Ngài không đem tư tưởng Duy thức sang Trung Hoa thì người ta nói nền triết học Phật học của Trung Hoa bị một lỗ hổng rất lớn. Vấn đề Tánh Không, Duyên khởi, Duy thức, vấn đề nhận xét sâu về tầng tâm thức của con người, chúng ta chỉ học được một chút xíu như hạt cát giữa sa mạc mà thôi. Còn lãnh hội của ngài Huyền Trang là lãnh hội rất sâu, tinh tế và đích thực là cái nhìn triết học Phật học.
Nhưng ở đây chúng ta chỉ nói đến tinh thần tu học. Sở dĩ Ngài đi được là Ngài có quyết chí, có được sức gia hộ và nhân duyên tốt đẹp trong hành trình gian nan của Ngài, bởi vì sao? Bởi vì đi qua sa mạc toàn cát không. Quý vị sẽ học tới theo bước chân của Ngài trong những giờ học thì quý vị sẽ thấy nếu người không có quyết tâm thì sẽ không bao giờ đi được.
Cho nên ở đây nói là gì? Chúng ta muốn tu học tới nơi tới chốn đều phải quyết tâm như thế. Ngài đi rất là gian nan khổ cực. Mình bây giờ chỉ là thừa hưởng những thành quả tốt đẹp của Ngài mà thôi. Mình tu có cực khổ một chút cũng đâu xá gì. Như vậy có nghĩa là lời giới thiệu sơ nói đơn giản về cuộc đời tấm gương của ngài Huyền Trang.
Bao giờ đọc lại những chuyện Ngài tôi vẫn thấy cái gì đó thán phục và mong ước là tu học làm sao có được một tinh thần như Ngài, tu học được như Ngài. Tu cũng là rất hết lòng mà học hỏi, nghiên cứu thì cũng là rất hết lòng.

Quý vị có thể đặt câu hỏi là ngài Huyền Trang tu theo pháp môn nào? Khi đi đường Ngài chỉ niệm Tâm kinh, niệm Bát Nhã. Và khi trở về nước thì thời khóa biểu của Ngài là, mỗi sáng trước khi dịch thuật Ngài đều ngồi thiền, buổi khuya Ngài đã dậy ngồi thiền và trong khi ngồi thiền tâm tư hết sức tĩnh lặng, thì tất nhiên tất cả các ý nghĩa thâm áo Phật pháp hiện ra một cách rõ ràng. Cho nên Ngài đọc một bản kinh Ngài nhìn chữ Phạn đó mà dịch qua Trung Hoa thì Ngài biết được ý nghĩa đích thực và chính xác của nó để dịch, có nghĩa là Ngài sẽ không bao giờ sai sót. Mà không phải một mình Ngài, dịch trường chắc hẳn đã có nhiều đệ tử, có nhiều người giỏi chữ Phạn. Người ta sẽ cầm một bản kinh ra, bên này sẽ đọc âm tiếng Phạn, bên kia sẽ đọc tiếng Trung Hoa và sẽ viết ra. Ngài chỉ là người kiểm soát, sẽ có một số bản dịch Ngài kiểm soát. Nhưng đối với bộ Đại Bát Nhã thì đích thân Ngài dịch vào những năm cuối đời gần tịch, Ngài biết sức của mình không còn bao nhiêu mà hoài bão của Ngài là muốn giới thiệu tinh thần cho đại chúng, tăng chúng của Trung Hoa. Nếu không dịch kinh này thì ngoài Ngài ra, tất nhiên là phải am hiểu Phật pháp sâu xa, ngoài mình ra thì e người sau không đủ sức cho nên Ngài cố công dịch bài Bát Nhã này. Và đến quyển cuối cùng cũng là quyển mà Ngài biết sức của mình sắp sửa chấm dứt, hơi thở của mình cũng không còn bao nhiêu. Ngài đã làm việc từ sáng cho tới khuya. Xong thì buông bút nghỉ ngơi sáng dậy ngồi thiền, tức nhiên là một cuộc đời miệt mài vô cùng. Cho nên mình đọc rồi thấy rằng quả thật Phật pháp có những bậc hết lòng như vậy. Nên chúng ta mới có được những kho tàng có được nguồn giáo lý mà bây giờ chúng ta không thể nào xưng tán được. Chỉ có một điều là chúng ta là những người chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Chúng ta học Phật qua những trang kinh Hán văn, chúng ta học tinh thần Đại thừa của các vị Tổ sư truyền dạy lại, thâm nhập trong tinh thần của mình. Mỗi Tăng Ni sinh cũng chịu ảnh hưởng đó, cho nên suy nghĩ nhận thức của mình thấm nhuần tư tưởng Đại thừa.

Bây giờ có những Tăng Ni sinh đi Ấn Độ du học thuật lại thế này. Tăng Ni sinh được đào tạo tại các trường Việt Nam qua Ấn Độ học để theo chương trình học Cao học lên Tiến sĩ. Các vị đó học với những vị thầy Giáo sư người Ấn, chương trình rất nặng nhưng nặng về ngoại ngữ, còn về tinh túy Phật học thì Tăng Ni sinh Việt Nam rất là giỏi, nên khi tiếp thu rất mau hiểu, vì mình có căn bản rồi, mình chỉ cần học giỏi Anh văn để viết những điều đó thôi. Có những điều Giáo sư người Ấn còn chưa biết hết, chưa hiểu hết mà Tăng Ni sinh Việt Nam đã được học hết, được chuẩn bị kỹ từ quê nhà. Nói điều này để quý vị thấy nền Phật học của mình là nền Phật học rất giỏi và tốt.

Ngay cả quý vị ở đây cũng vậy. Tuy học ít nhưng học cái gì có căn bản cái đó. Nắm hiểu rõ ràng sâu cái chìa khóa tinh thần của môn Phật học đó. Tất cả những điều chúng ta học ở đây, ngay hiện tại của cả Tăng Ni Việt Nam được thừa hưởng hiện tại phải nói là nhờ công ơn của ngài Huyền Trang rất là nhiều. Bởi vì triết học Phật học và tinh thần Phật học Đại thừa nằm trong bộ Bát Nhã, Duy thức, Trung luận, và Trung luận thì đã có ngài La-thập dịch rồi. Có nghĩa là những điều thâm sâu khó hiểu đã được dịch sang tiếng Trung Hoa. Bây giờ chỉ cần giỏi tiếng Hán để đọc và dịch và dĩ nhiên là chúng ta đã thành tựu.

Đó là ơn rất lớn của các Ngài, vì mình không giỏi tiếng Phạn. Và những người giỏi tiếng Phạn bây giờ rất ít người hiểu được tinh thần đó, đọc được nguyên bản đó, còn những người khác kể cả sinh viên Ấn Độ, người Ấn cũng không hiểu được tinh thần Phật học Đại thừa bằng Tăng Ni Việt Nam, bằng những người Việt Nam. Vì sao tôi nói điều này, vì chúng ta ở trong một nước thấm nhuần tinh thần Đại thừa, được học, được nghiên cứu, giảng dạy tự nhiên nó được ăn sâu vào trong, mình không thấy nó ăn sâu hồi nào, nhưng tận trong cùng của mình những suy tư này kia cách ăn nói bộc lộ nó mang tính cách đó.
Ví dụ, nói ngay tính chất các pháp tính chất duyên khởi chẳng hạn. Mình biết các pháp do nhân duyên, chỉ cần một cái biết đơn giản như vậy thôi. Mình biết cái này do duyên hơn nên không cố định, cái này kết hợp với cái kia cho ra một nhân duyên như thế. Nhân duyên nó có khi được có khi mất có khi thành có khi bại. Mình biết tính chất nhân duyên. Mình nói không phải lý luận này kia, mà mình nói để biết mọi thứ nó chỉ tàm tạm như thế. Đâu có gì cố định chắc đâu mà chấp chi cho mệt. Như vậy chúng ta đã sống với tinh thần Bát Nhã, tinh thần tánh Không duyên khởi. Tuy là phải lấy danh từ để giải thích nhưng mà mình thấy mình học được tu được và đó là cốt lõi hệ thống triết lý mà chính ngài Huyền Trang đã dịch và trao truyền cho chúng ta. Tôi chưa nói tới phần Tạng thức, A-lại-da thức hay thất thức, chỉ nói về tánh Không duyên khởi, chỉ nói về phần mà mọi pháp đều do duyên hợp. Cho nên có duyên thì cái này hợp cái kia, có duyên thì chúng ta được thành tựu như thế, không đủ duyên thì mọi thứ sẽ rắc rối như thế nào. Mọi thứ đều do duyên, cho nên mình khỏe. Đó cũng là một cách tu, một cách giải quyết bớt những vọng tưởng, những phiền não của mình, mình sẽ không bận tâm khổ sở gì nhiều.

Chỉ với tinh thần đó sự truyền đạt, dịch thuật giảng dạy từ thời ngài Huyền Trang cho tới bây giờ thì quý vị thấy ảnh hưởng rất lớn của nó. Ảnh hưởng đó rất quan trọng chớ không đơn giản. Tôi chỉ gợi ý như vậy thôi, mong rằng quý vị khi học sẽ thấy được tinh thần đó, sẽ theo dõi được bước chân Ngài.

Và hai điều chúng ta phải lưu ý. Đó là sức gia hộ, hình như giữa một cơn rất nguy hiểm thập tử nhất sinh Ngài đều có sức gia hộ, sức gia hộ đó là gì? Đó là sức tu tích từ thời quá khứ cho đến giờ chớ không phải giờ, thì phải hiểu như vậy. Có khi đi một đoàn với Ngài qua dãy núi tuyết, người ta chết gần hết chỉ còn mấy thầy trò, thì phải biết khó khăn vô cùng.

Thứ nhất là phải có sức gia hộ, thứ hai là phải có lòng tin tưởng vào Phật pháp. Với hai tinh thần này quý vị sẽ hiểu được cuộc đời và con người của ngài Huyền Trang. Bài học đó quý vị sẽ học cho chính mình. Áp dụng cho chính mình. Ai cũng mong muốn được sức gia hộ, nhưng muốn được sức gia hộ trước hết mình phải như thế nào. Mình muốn được sức gia hộ trước hết phải gia hộ cho người khác, mình phải tử tế với người khác. Gia hộ cho người khác có nghĩa là gì, ở đây chúng ta mở rộng lòng ra thương yêu, gia hộ giúp đỡ cho người khác có nghĩa là mình đã gia hộ cho người bạn của mình. Từ sức gia hộ đó mình sẽ nhận được sức gia hộ của chư Phật, đó là điều thứ nhất.

Thứ hai là mình phải quyết chí, nghĩa là coi mạng mình, thân mình, con người mình nó không đáng trọng mình chỉ đem thân tứ đại tạm bợ này đi học Phật pháp. Phật pháp là một điều đáng quý trọng, còn thân mình có thể hy sinh, hy sinh cái ta của mình để cho Phật pháp của mình chói rạng hơn. Thì cái đó là cái mà chúng tôi nghĩ rằng đó là ý nghĩa đích thật.

Tôi nghĩ như vậy, chia sẻ cùng quý vị và truyền kinh nghiệm đó cho quý vị để chúng ta có thể học những giờ học của ngài Huyền Trang thú vị và lợi ích hơn.

Mạnh xuân 2007
Như Đức

Đôi lời


Chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu?

Nếu là một Đường Tam Tạng thì phải bắt đầu từ động Thủy Liêm theo chân Tôn Hành Giả, nhưng nếu theo dõi bước của Đường Huyền Trang thì bắt đầu từ Trường An vậy.

Dò theo bản đồ Trung Quốc hiện nay không thấy tên Trường An, tôi đã dùng một cái kính lúp có đèn để mong tìm ra một chấm nhỏ, mà không thấy. Mãi sau, hỏi thăm mới biết Trường An chính là Tây An hôm nay.

Trường An nay là thủ phủ Tây An của tỉnh Thiểm Tây.

Có một nhà khảo cổ than rằng: “Thời gian năm tháng chẳng chút lưu tình”, đọc cảm khái làm sao với một người giở trang sử cũ. Chỉ với thời gian đôi mươi năm mà đường về đã không còn dấu vết, thì vài ngàn năm biết tìm thấy nơi nào!

Nhà Chu định đô ở Phong Cảo nội vi huyện Trường An. Mãi đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất dải đất Trung Nguyên, nhà Tần mới định đô ở Hàm Dương cách Trường An khoảng 20 km về phía Tây Bắc.

Kinh đô hoành tráng thế nào, chắc chúng ta không biết, mà cũng chưa nghĩ sẽ biết làm gì, nhưng khi nhà Tần về tay Hán Cao Tổ (Lưu Bang) thì cung A Phòng ở Hàm Dương bị đốt cháy, cháy suốt tháng trời!

Từ đó nhà Hán định đô ở Trường An.

Đến đời Hán Vũ Đế năm 140 trước công nguyên có các nhân tài nổi tiếng như: Đổng Trọng Thư, Tư Mã Tương Như, Lý Quảng, Hoắc Khứ Bệnh, Tư Mã Thiên, Trương Khiên, Tô Vũ đến đời Minh Đế có Ban Siêu… Trong số đó có Ban Siêu và Trương Khiên là những người tiên phong mở đường bang giao với Tây Vực. Hai vị đó và Lý Quảng, Tô Vũ là những nhân vật được nhắc đến nhiều trong ngữ lục. Sau này ngài Huyền Trang cất bước Tây du nhờ những con đường mòn hiểm trở đã được thông thương trước đó hơn 700 năm!

Nhắc đến Trương Khiên, sách “Ngụy Thư Thích lão Chí”có ghi rằng: “Đời Vũ Đế nhà Tiền Hán, có Trương Khiên phụng mệnh vua đi sứ sang nước Tây Vực về tâu rằng: “Bên nước Thân Độc (Ấn Độ) có đạo Phù Đồ (chỉ Phật giáo)…” Tuy rằng người sau không đồng ý thuyết này, nhưng nêu ra để thấy sự khai thông con đường tơ lụa giúp sự du nhập Phật giáo vào Trung Quốc dễ dàng hơn.

Cổng Khai Viễn của kinh đô Trường An năm mất mùa 629 chắc đã bị thời gian và không gian xóa lấp.

Cổng Khai Viễn bây giờ - chỉ mượn tạm một dấu tích trên địa lý để nói rằng ngày xưa chính nơi mảnh đất này ngài Huyền Trang đã cất bước Tây du. Hoặc giả cũng chính nơi đây các vị Cao tăng Tây Vực đã vượt ngàn dặm núi non sa mạc đem theo kinh điển đến, dịch từ Phạn ra Hán làm nền tảng cơ bản buổi ban đầu.

Qua cơn binh biến, pháp nạn, những bản kinh còn tồn lại gây những mối nghi không giải đáp được, nên bước Huyền Trang ghi dấu tìm về nguồn cội Thiên Trúc. Hiện nay có những bản kinh không còn bản Phạn, nhờ những bản dịch Hán còn để lại mới biết rằng có một bản kinh như thế. Cảm động làm sao khi mở những trang kinh cũ.

Trong tập sách nhỏ sơ lược này - một dấu tích nào đó trong khoảng đường được vẽ lại, nơi những con đường mòn nhỏ qua núi cao, qua rừng rậm, qua sông sâu như còn lưu bóng ngài An Thế Cao, La Thập, Đàm Vô Sấm... từ Tây Vực qua hắt trên bóng ngài Pháp Hiển, Huyền Trang từ Trường An về Thiên Trúc. Và nhất là còn đó một hình bóng được nhắc lại rằng “chỉ một mình và bóng của chính mình đổ xuống trên dặm đường sa mạc mênh mông về Tây”...


Cuối xuân 2007

Lời giới thiệu

Bìa sách - Dõi bước Huyền Trang


Người xưa vạn lý trường chinh để thâu tóm giang sơn, sự
nghiệp, danh tiếng và thêm nghiệp khổ nghìn thu. Ngài
Huyền Trang đơn thân độc mã băng qua gió cát mịt mù
đi tìm nguồn suối Phật đà rót từ đỉnh Himalaya. Truyền
thuyết dân gian gọi Ngài là “Tam tạng đi thỉnh kinh”.

Kinh là những lời chuyển tải sự sống chân thật, đi tìm
kinh cũng là để thâm nhập tận cùng lẽ sống. Ngoài công
phu đưa về cho Trung Hoa tạng giáo, mở thêm chân trời
văn học, sử địa, xã hội… cho Tây Vực gần gũi Đường
triều, Ngài đã giới thiệu hình ảnh Tăng nhân Trung Hoa
uy nghi đức độ và hết sức thông tuệ cho những dân tộc
vùng Trung Á. Chỉ có công phu thành khẩn và phuớc báu
trọn vẹn như Ngài mới làm nên sự nghiệp nối liền hai nền
văn hóa lớn của Á Đông, mà cho tới bây giờ chúng ta chỉ
biết chiêm ngưỡng.

Tác phẩm “Dõi bước Huyền Trang” biên soạn lại những
nẻo đường khuất tịch, những vùng đất xa xưa mà ngày nọ
Ngài đã đi qua. Xin chỉ là một chút tâm thành nhỏ nhoi
đặt dưới chân của Ngài.

Như Đức
(2007)

Lời dâng Thầy



Kính dâng Thầy,
Người đã làm sống lại các bản Kinh năm xưa,
để chúng con đủ niềm tin nương theo dấu cũ tìm về nguồn.

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Lời dẫn





1- Dàn bài và những chú thích tên bằng tiếng Anh hay Phạn nương theo
quyển “Hsuan Tsang – The Pilgrim and Scholar” và phần chuyển ngữ Việt
“Huyền Trang Nhà Chiêm Bái” do Ni sư Trí Hải chuyển ngữ.
2- Nội dung chúng tôi lược dịch theo bản Hán:
- 大慈恩寺三藏法師傳 # Taisho Tripitaka Vol. 50, No. 2053
- 大唐故三藏玄奘法師行狀一卷 # Taisho Tripitaka Vol. 50, No. 2052
- 大唐西域記 # Taisho Tripitaka Vol. 51, No. 2087
3- Phần chú thích : Phần địa và sử, chúng tôi lược dịch theo những tài liệu
từ “Wikipedia, the free encyclopedia”, LoveToKnow. Những tài liệu này hiện
đang phổ biến bất vụ lợi trên mạng, độc giả có thể đọc bổ sung thêm, khi
cần.

Tài liệu tham khảo

a/ Tài Liệu Ngoại ngữ:
-  唐内典录[唐释道宣]
* 金珲. 苍茫灵山. 北京: 结出版社
- Alexander Cunningham, The Ancient Geography of India, India, 2002
- Bản đồ:
** Bản đồ các nước Trung Á tải từ mạng.
** Bản đồ Cam Túc, Tân Cương:
* Zhong Gou Luyou Dituce. China
* 最新中國地圖. Oustanding Publication (精英出版社)
* Map of The People’s Republic of China. Chengdu Cartographic Publishing House.
** Bản đồ Ấn Độ:
* Lastest Map of India. Indian book Depot (Map House)
* Road Atlas India. India: Lal Chand & Son.

b/ Tài Liệu tiếng Việt:
- Thích Minh Châu, Huyền Trang Nhà Chiêm Bái, Trí Hải (dịch), BTT VĐHVH, 1996.
- Võ Đình cường, Đường Tam Tạng Thỉnh kinh, Viện NCPHVN, 1992
- Đoàn Trung Còn, Văn Minh Nhà Phật, Nxb Tôn Giáo, 2003
- Thích Minh Châu, Thích Thiện Châu, Đường Về Xứ Phật, Trường Cao Cấp PHVN, 1989.
- Xa Mộ Kỳ, Con Đường Tơ Lụa, Nguyễn Phố (dịch), Nxb Trẻ, 2000.
- Nguyễn Hiến Lê, Ý Chí Sắt Đá, NXB VHTT Hà Nội, 2000.
- Akhil Bakshi, Theo Dấu Xe Trên Con Đường Tơ Lụa, Phạm Minh Thảo (biên dịch), Nxb VHTT Hà Nội, 2004.
- Tuệ Khai, Nghiên Cứu Phật Giáo Tây Vực, Pháp Tạng PGVN, Lưu hành nội bộ, 2004.
- Tôn Thư Vân,  Muôn Dặm Không Mây,  Tâm Hiếu (dịch), Nxb THTPHCM, 2006.
- Đại Đường Tây Vực Ký, Thích Như Điển (dịch), TTVHXH PGVN CHLB Đức, 2004.
- Bút Ký ‎ Đường Tăng, Nhuế Truyền Minh (chú giải), Lê Sơn (biên dịch), Nxb Phương Đông, 2007

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Lời kết

Các bạn thân mến,

Chúng ta đã cùng nhau theo bước Tam tạng Huyền Trang tây du trong thời gian qua. 

Mười bảy năm gói trong những trang sách, với những đoạn đường gian nan trên những đỉnh núi tuyết. Khi post lại chúng tôi cũng bồi hồi cảm động trước chí quyết của người xưa.

Tập sách này soạn xong vào năm 2007, thời điểm đó tài liệu về những di tích chưa được khai quật nhiều, nên còn nhiều thiếu sót.

Chân thành cảm tạ các bạn đã ghé thăm và cùng dõi bước người xưa với chúng tôi.


II-5-2 Đường về qua Tân Cương đến Tràng An


II-5-2- Đường về qua TÂN CƯƠNG:

1- Kabhada (Khiết-bàn-đà) → 2- Yarkand (Usa, Ô-sát) → 3- Kashgar (Khư-sa) → 4- Yecheng (Chước-cú-ca) → 5- Kustana (Khotan, Vu Điền) → 6- Qira (Bhima, Bễ-ma) → 7- Niya (Nê Nhưỡng) → 8- Tukhara cũ (Đổ-hóa-la) → 9- Thả Mạt (Chiết-ma-đà-na) → 10- Nhược Khương (Nạp-phược-ba).

Village mosque on road to Kashgar from the Torugart Pass
①→ Về phía Đông 500 dặm đến xứ Kabhada (Khiết-bàn-đà朅槃 ). Đô thành lưng dựa vào núi. Xứ này nhiều sông, sông này chảy về Đông vào các đầm nước mặn, thấm xuống đất lộ ra những tảng đá chất chồng, nên nói xứ này là nguồn của sông. Trong nước có mười ngôi chùa, tăng đồ khoảng năm trăm, tu học theo Nhất thiết Hữu bộ. Vua thuần hậu chất phác, kính tin Phật pháp. Dung mạo người dân giống như người Hán nhưng mặc y phục người Hồ. Huyền Trang lưu lại đây 20 ngày.

Khiết-bàn-đà nay là vùng Taxkogan (Tháp-thập- khố-nhĩ-can塔什库尓干), nằm giữa cao nguyên Pamir và dãy Kunlun (Côn Luân), thuộc tỉnh Tân Cương, thượng lưu sông Diệp Nhĩ Khương葉尓羌 (Yarkand). Đây là cửa khẩu trọng yếu của núi Thông Lĩnh.
Theo ĐĐTVK kể rằng, vua A Dục lên ngôi, cho lập tháp trong hoàng cung nước ấy. Thời đó có bốn vị luận sư nổi tiếng. Miền Đông có Mã Minh, miền Nam có Đề Bà, miền Tây có Long Thọ, miền Bắc có Đồng Thụ. Người đời tôn là “Tứ nhật chiếu thế” (bốn mặt trời soi chiếu trần gian). Khi vua Khiết-bàn-đà nghe danh liền cử binh đi đến Taxila (Đãn-xoa-thỉ-la) đón Đồng Thụ về lập chùa.
→ Đi tiếp về hướng Đông bắc 5 ngày thì gặp cướp, sau đó cùng nhau đi dần xuống hướng Đông, gặp ngọn đồi, chịu rét lạnh vượt dốc cao. Con voi của Ngài bị chết.

Kongur Muztagh Ata nhìn từ Karakorum
Vượt qua hai ngọn núi Muztagata (Mộ-sĩ-tháp-cách sơn慕士塔格山 Mùshìtǎgé Fēng) cao 7.586m và Kongur Shan (Công-cách-nhĩ sơn公格尓 ) cao 7.719m. Đây là hai ngọn núi cao nhất trên con đường Huyền Trang đã đi qua.
Muztagh Ata (Muztagata) là ngọn cao thứ hai của dãy Kunlun. Muztagh Ata nằm phía Nam của ngọn Kongur Tagh và dưới chân phía Bắc của cao nguyên Tây Tạng. Nó được coi như thuộc Kunlun mặc dù nó gần Pamir hơn.
Không xa về phía Bắc và Đông của nhóm núi này là vùng đất thấp của thung lũng Tarim và sa mạc Taklamakan.

② → Đi hơn 800 dặm ra khỏi thung lũng Pamir đến xứ Usa (Ô-sát烏鎩). Nước này sản xuất nhiều loại ngọc thạch như bạch ngọc, khuông ngọc (ngọc đen huyền), thanh ngọc. Khí hậu ôn hòa. Trong nước có mười ngôi chùa, khoảng ngàn tăng đồ, học theo Tiểu thừa. Dân sùng kính Phật giáo, trong nước không có vua, lệ thuộc Khiết-bàn-đà. Phía Tây đô thành có dãy núi lớn có vị Tỳ-kheo nhập diệt tận định.
 Ô-sát nay là Yarkand (Yarkant, Sa-xa莎車, Shāchē, Suōchē) 37°52′Bắc 77°24′Đông, cao độ 1.189m, là một tỉnh trong Tân Cương, Trung Quốc. Nằm ở rìa phía Nam sa mạc Taklamakan trong lòng chảo Tarim. Yarkand là một vương quốc Phật giáo cổ xưa trên con đường tơ lụa nhánh phía Nam.

Thung lũng Yarkand
Sông Yarkand (sông Diệp Nhĩ Khương) là đầu nguồn của sông Thung lũng Yarkand Tarim ở Tân Cương, miền cực Tây của Trung Quốc. Sông dài 970 km bắt nguồn từ dãy Karakoram trong vùng Kashmir. Nó chảy qua vùng thung lũng của dãy Kunlun (Côn Luân), sau đó chảy về ốc đảo Yarkand. Sau khi rời ốc đảo, con sông chảy về hướng Đông bắc quanh rìa sa mạc Takla Makan. Từ đó kết hợp với các dòng khác hình thành sông Tarim. Không giống như những con sông đầu nguồn khác của Tarim, sông Yarkand đầy nước quanh năm từ những tuyết và băng hà tan trên hệ thống núi Karakoram và Kunlun, nó là nguồn nước chính của sông Tarim.

③ → Từ Usa (Ô-sát) đi về hướng Bắc, qua sa mạc rộng lớn hoang vu khoảng 500 dặm đến xứ Kashgar (Khư-sa佉沙, Sơ-lặc疏勒). Đất này khí hậu ôn hòa, dân cư tính tình thô tháo, hung dữ, mắt xanh biếc, không siêng năng học chữ. Trong nước có vài trăm ngôi chùa, một vạn tăng đồ nhưng chỉ tụng niệm không chuyên nghiên cứu nên ít thông Tam tạng.
Kashgar (Ca Thập喀什, Cascar, Kāshí). Trước kia tên Sơ-lặc疏勒, Su-leh, Sulei, Shule, Shu-le, Shele, Shu-lo hoặc Sha-le. Sanskrit: Śrīkrīrāti.
Khi dòng sông tại Kashgar đóng băng
Kashgar nằm ở rìa phía Tây sa mạc Taklamakan, dưới chân núi Thiên Sơn (Tian Shan) vị trí 39°28′Bắc, 76°03′Đông, cao độ 1.290m. Là một thành phố ốc đảo thuộc Tân Cương Duy-ngô-nhĩ (Xinjiang Uyghur). Ốc đảo Kashgar là nơi gặp nhau của hai tuyến đường nam bắc từ Trung Quốc đi quanh sa mạc Taklamakan.
Kashgar được biết đến vào năm 76 BC (trước công nguyên) khi nhà Tây Hán chinh phục được Hung Nô, Vu Điền (Khotan), Sơ Lặc (Kashgar) và các nước ở thung lũng Tarim quanh chân núi Thiên Sơn.
Sa mạc vùng Kashgar

Kashgar theo đạo Phật rất sớm, phát triển nhanh và mạnh khi con đường mậu dịch giữa Tây và Đông mở cửa, số lượng đường sá tăng lên.
Lịch sử của Kashgar cũng thay đổi theo nhiều triều đại của Trung Quốc. Đọc những tư liệu rải rác để lại, thì chiến tranh và tàn phá cũng không ít. Vương triều Kalahan tín ngưỡng đạo Hồi, nên lúc đó Kashgar là trung tâm Hồi giáo lớn nhất Tây Vực.
Huyền Trang định về thăm lại Cao Xương như lời hứa lúc ra đi, nhưng nghe tin nước Cao Xương đã bị Đường triều diệt vào năm Trinh Quán 14, hiện gọi là Tây Châu西州. Ngài ngậm ngùi mãi, bèn quyết định chọn con đường phía Nam về Trường An.

④ → Đông nam 500 dặm, qua sông Sita, qua nhiều dãy núi lớn và đến Chokkuka (Chước-cú-ca斫句迦). Nước này chùa tháp nhiều, kinh điển Đại thừa cũng nhiều.
Yecheng (Diệp Thành)
Chokkuka (Kargilik, Karghilik) nay là Yecheng (Diệp Thành叶城, Yèchéng) vị trí 37°51′Bắc 77°30′Đông. Yecheng là tên của ốc đảo và thành phố, nằm ở vành đai phía Nam của sa mạc Taklamakan, Tân Cương.
⑤ → Đầu năm 644, đi tiếp về Đông 800 dặm đến xứ Kustana (Cù-tát-đán-na瞿薩旦那), tức Vu Điền 于闐, nay là Hòa Điền. Hoà Điền chính là nước Vu Điền cổ đại (còn huyện Vu Điền ngày nay thì không phải.)
Khotan (Hotan, Hòa Điền和田, 和闐, Hétián) vị trí 37°6′Bắc 80°1′Đông, là một đô thị ốc đảo, là một điểm dừng chân quan trọng trên con đường tơ lụa phía Nam, thuộc Tân Cương Duy-ngô-nhĩ (Xinjiang Uyghur).
Nơi đây có hai con sông lớn cung cấp nước, sông Karakash và sông Yurungkash cung cấp nước cần thiết cho miền Tây nam bên ven sa mạc Taklamakan mênh mông– sa mạc rộng thứ hai trên thế giới.

Sông Yurungkash (Bạch Ngọc hà)
Đô thị cổ này có một lịch sử phong phú về tơ lụa, ngọc bích và đồ gốm. Nó nằm phía Tây sông Yurungkash (còn gọi là sông White Jade, vì nơi đây bạch ngọc tìm được trong phù sa bồi. Phần lớn ngọc bích hiện nay không còn, thỉnh thoảng có thể tìm thấy. Sông vẫn còn cung cấp nước để tưới cho đô thị và vùng phụ cận.
Vùng này là nơi khảo cổ học tìm thấy rất nhiều thứ đã bị chôn vùi trong cát sa mạc.

Sông Karakash (Hắc Ngọc hà)
Karakash (Karakax) hay Black Jade River (Chinese: Hắc Ngọc 黑玉河; pinyin: Hēiyù Hé), phát nguyên từ rặng Karakoram. Con sông này nổi tiếng nhờ những viên ngọc màu trắng hay màu lục, nằm trong dòng sông như đá cuội. [Sông Ca La Ca Thập gọi là sông Hắc Ngọc, sản sinh ra loại ngọc đen tuyền hay xanh đen].
Yurungkash (Yurungkax) hay White Jade River (Chinese: Bạch Ngọc hà白玉河; pinyin: Báiyù Hé), phát nguyên từ Kashmir, dãy Kunlun (Côn Luân), sông chảy qua Hòa Điền và cạn dần trong cát sa mạc. [sông Ngọc Long Ca Thập玉龍喀 còn tên Bạch Ngọc, vì sau cơn nước lớn trong lòng sông có loại ngọc màu trắng từ núi Kunlun chảy về đọng lại.]
Tại Hòa Điền, trên hai con sông này có thể đi vớt ngọc, tương truyền rằng, nơi nào có ngọc thạch, mặt nước ban ngày ban đêm sáng lên đặc biệt, cho nên ban đêm, nơi nào ánh trăng sáng có thể tìm thấy ngọc. Hàng năm vào mùa hạ nước lũ từ nguồn đổ về, ngọc thạch lộ thiên tại Kunlun theo lũ tràn về dòng sông. Tháng chín nước rút, nước sông trong, dân chúng kéo đi tìm ngọc.
Huyền Trang ở lại 7 ngày. Vua thân hành đến thăm. Ngài đến kinh đô, ở lại ngôi chùa thuộc Nhất thiết Hữu bộ. Ngài cho người đến Kuccha và Kashgar tìm kinh điển Ngài đã đánh mất khi qua sông Indus. Vua xứ Kustana là người mạnh mẽ có trí, kính trọng Phật pháp, tự xưng là Tỳ-sa-môn thiên, nghe tin Huyền Trang đến cùng với quần thần ra nghênh đón bái yết, vua trở lại đô thành trước, để thái tử ở lại hầu cận Ngài. Vài hôm sau cho cận thần đến đón Huyền Trang về kinh đô. Vua thỉnh Ngài giảng Du Già, Đối Pháp, Câu Xá, Nhiếp Đại thừa Luận... Quốc vương cùng đạo tục đến nghe mỗi ngày cả ngàn người.
Từ Kustana cho một thanh niên ở Cao Xương đi với thương gia đem thư báo tin về cho Hoàng đế Trung Quốc.
Sau bảy tám tháng có chiếu chỉ vua báo, hết sức vui mừng khi nghe Ngài trở về và ban lệnh cho các quan sở tại hộ vệ và đón rước.
Sau khi nhận chiếu chỉ, Ngài lập tức khởi hành, vua Kustana cúng dường cho Ngài những thứ cần thiết để khởi hành.

⑥ → Ngài đi về phía Đông 300 dặm đến thành Bhima (Bễ-ma ).
Thành Bễ-ma nay khoảng phía Bắc huyện Sách-lặc策勒 (Qira), Tân Cương. Thành này đã bị chôn vùi trong cát. Vùng bắc bộ Sách-lặc có một vài khu thành hoang phế bị cát chảy (lưu sa) chôn vùi, trong đó có tháp Phật chùa chiền và thôn trang [Tơ Trù Chi Lữ, Xa-mộ-kỳ]
⑦ → Đi tiếp về hướng Đông qua một sa mạc 200 dặm đến thành Niya (Ni Nhưỡng泥壤).
Niya

Ni Nhưỡng nay là di chỉ cổ thành Ni Nhạ尼雅, tại Tân Cương, phía Bắc huyện Dân Phong民丰 Minfeng 100km, giữa sa mạc.
Thời Đông Hán, Dân Phong thuộc nước Thiên Thiện. Di chỉ của nước này ở hạ lưu sông Ni Nhã cách huyện Dân Phong 150km về phía Bắc hiện nay đã bị chôn vùi trong sa mạc. Di chỉ Ni Nhã phân bố dọc theo sông Ni Nhã khô cạn, Nam bắc dài chừng mười cây số, Đông tây rộng hai cây số. [theo Tơ trù chi lữ, Xa-mộ-kỳ]
→ Vẫn hướng Đông vào một sa mạc cát, gió thổi cát bay, nên không để lại dấu vết, không cỏ nước. Gặp nạn yêu mị nóng độc, không có đường đi ngoài những bộ xương người và vật trên lối đi.
Sa mạc Taklamakan (Tháp-khắc-lạp-mã-can塔克拉瑪干), còn gọi là mê lộ vì gió thổi bay hết dấu chân trên đường, không có vết tích mà theo.
 Sầm Tham có thơ rằng:
Cô thành ỷ đại thích 孤城倚大磧
Hải khí nghênh biên không 海氣迎邊空
⑧ → Đi tiếp 400 dặm đến xứ Tukhara (Đổ-hóa-la睹貨邏) cũ. Thành đã hoang tàn.
Hiện nay tại Andirlangar (An-địch-nhi-lan-can安廸爾 蘭干) nằm trong sa mạc Taklamakan, người ta phát hiện cổ thành phần lớn đã bị chôn vùi trong cát. Nhưng chưa có có những khai quật rõ ràng để xác định có phải là Tukhara cổ hay là một thành lũy cổ của nhà Đường.

⑨ → 600 dặm đến xứ Calmadana (Chiết-ma-đà-na折摩馱那), lãnh thổ của Qiemo (Qarqan), Chenchen (Thả Mạt且末), thành trì còn đó mà không một bóng người.
Sông gần thành phố đóng băng từ hai đến ba tháng trong mùa đông.
⑩ → Đông Bắc 1000 dặm đến xứ Navapa (Nạp-phược-ba納縛 ) đất Loulan (Lâu-lan樓蘭) [nay thuộc huyện Nhược Khương若羌 Ruoqiang (Qarkilik)].

Phía Đông của thành phố cổ xưa Niya là một thành phố bị chôn vùi đang nổi tiếng trên thế giới đó là vương quốc Loulan, vương quốc này đã bị cát vùi lấp hơn 1.400 năm qua.
Vùng lòng chảo quanh sa mạc Taklamakan có khoảng 36 đô thị, trên đường bành trướng của sa mạc, nó đã vùi lấp tất cả vương quốc kia dưới đụn cát cao 250m, các vương quốc đã biến mất trong cuộc chiến đấu với thiên nhiên.

Về đến địa phận Trung Quốc
Mùa thu năm Trinh Quán 18 (644), Huyền Trang từ Dương Quan tiến vào đất nhà Đường, các quan viên ở Đôn Hoàng ra nghênh tiếp. Các đại biểu nhà Đường tặng phẩm vật cho sứ thần Vu Điền, nhưng họ từ chối không nhận.
* Các người hộ vệ của Kustana trở về, khi Huyền Trang đến Sa Châu沙州.
Dương Quan cổ đạo
Dương Quan

Đi tuyến Nam con đường tơ lụa thì ra Dương Quan, đi tuyến Bắc thì ra Ngọc Môn Quan. Lúc đi Huyền Trang chọn hướng Bắc nên theo sông Sơ Lặc đến Ngọc Môn Quan vượt Ngũ phong đài qua sa mạc đến Hami.
Đường về từ Nhược Khương vượt sa mạc theo hướng Nam vào Dương Quan đến Đôn Hoàng.
Vương Duy王維 trong Vị Thành Khúc渭城曲 có nhắc đến ải Dương Quan với hai câu kết “Xin mời anh hãy uống hết chén rượu tiễn này, Vì khi anh đi về phía tây Dương Quan rồi sẽ không còn bạn thân nữa.” Và bài thơ lưu truyền đến ngày hôm nay.
渭城朝雨浥輕塵客舍青青柳色新勸君更盡一杯酒西出陽關無故人Vị thành triêu vũ ấp khinh trầnKhách xá thanh thanh liễu sắc tânKhuyến quân cánh tận nhất bôi tửuTây xuất dương quan vô cố nhân.
Sa Châu là Đôn Hoàng ngày nay.
Đôn Hoàng có nghĩa là “thịnh đại”, nó là yết hầu của con đường tơ lụa. Đôn Hoàng là một lục châu đầy nước và cỏ, đây là trạm dừng chân để chuẩn bị lương thực vượt sa mạc Taklamakan rộng lớn.
Đôn Hoàng là dải đất ở tận cùng Hành lang Hà Tây ở mút phía Tây. Từ đời nhà Hán trở đi đây là con đường giao thông trọng yếu giữa Trung Quốc và các nước Tây Vực. Thời Thượng cổ đất này của Tây Nhung西戎, thời Xuân Thu gọi là Qua Châu, thời Tầnlà đất thuộc Đại Nguyệt Chi大月氏, thời Hán sơ thuộc Hung Nô. Niên hiệu Nguyên Đỉnh元鼎 năm thứ sáu (111 B.C.) đặt là Đôn Hoàng Bộ. Đến đời Đông Tấn, niên hiệu Hàm Khang năm đầu (335- 341) đặt đất này là Sa Châu.

Đôn Hoàng di chỉ
Khoảng niên hiệu Long An隆安(397- 401) nhà Tây Lương kiến lập kinh đô nơi đây.
Thời Hậu Ngụy, Thái Vũ Đế đặt là trấn Đôn Hoàng敦煌鎮.
Đến nhà Tùy, khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616) đổi thành quận Đôn Hoàng. Các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh lần lượt đặt là Qua Châu, Tây Sa Châu, Đôn Hoàng, Sa Châu. Đời Thanh, Càn Long (1736-1795) đặt là huyện Đôn Hoàng, thuộc tỉnh Cam Túc.
Đất này từ xưa đã có nhiều bộ tộc cư trú, văn hóa phong tục phức tạp. Phật giáo từ xưa đã được truyền bá tại đất này, nơi đây đã có nhiều vị Cao tăng, các vị tăng dịch kinh đến đây, không tính kể hết. Người đương thời xưng tán
Cao tăng Trúc Pháp Hộ là “Đôn Hoàng Bồ Tát”, người đầu tiên tại Đôn Hoàng lập chùa truyền bá. Các Cao tăng đi Tây vực cầu pháp cũng dừng lại nơi đây rất nhiều. Ngoài ra đến đời Bắc Ngụy có Cao tăng Đàm Vô Sấm ở nơi đây dịch Bồ Tát Giới Bổn菩薩戒本 và Đại Bát Niết Bàn Kinh大般涅槃經 (Bản Bắc). Đàm-ma mật-đa曇摩蜜多 nơi đây khai khẩn đất, kiến lập tinh xá, tận lực hoằng pháp.
* Ngài viết thêm cho Hoàng đế một bức thư, vua sai Lương quốc công, Phòng Huyền Linh sắp đặt việc đón tiếp.
* Nghe tin vua sắp đi viễn chinh gần sông Liêu, Ngài vội trở về đến kinh Tào Thượng漕上 (canal). Chính quyền địa phương không biết cách đón tiếp Ngài nhưng dân chúng thì kéo đến đảnh lễ hàng hàng người, làm các con đường đông nghẹt không lối đi, Ngài phải ở lại Tào Thượng漕上 một đêm.
* Tháng Giêng mùa xuân niên hiệu Trinh Quán 19 (645) Thủ tướng Phòng Huyền Linh cử Hầu mạc Trần Thật, đại tướng xứ Hữu Võ Hầu, Lý Thúc Thông, Tư mã ở Ung Châu và Lý Hàn Cựu, Huyện lệnh ở Tràng An đi đón Ngài. Ngài đến Tào Thượng, theo sau là vô số người ở tại khách xá và kinh đô.
* Vào ngày ấy theo lệnh chính quyền nhiều ngôi chùa trong kinh đô đều sửa soạn đón tiếp, rước xá-lợi Phật và kinh tượng do Ngài thỉnh về. Dân chúng vô cùng hân hoan, tranh nhau bái yết Ngài.

* Ngài mang về Trung Hoa:
- 150 viên xá-lợi Phật - 1 tượng Phật vàng trong hang Long-khốt trên núi Chánh Giác ở Ma-kiệt-đà
- 1 tượng Phật bằng gỗ trầm hương, trình bày đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở Varanasi
- 1 tượng Phật bằng gỗ trầm hương mô phỏng tượng trầm hương do vua Udayana xứ Kausambi tạc
- 1 tượng Phật bằng bạc tạc hình đức Phật từ cung trời giáng xuống cung Ca-tỳ-la-vệ
- 1 tượng Phật bằng vàng tạc hình đức Phật đang thuyết kinh Pháp Hoa và những kinh khác trên đỉnh núi Thứu-phong xứ Ma-kiệt-đà
- 1 tượng Phật bằng gỗ trầm hương tạc hình đức Phật khắc phục mãng xà ở Nagaraha
- 1 tượng Phật bằng gỗ trầm tạc hình đức Phật khất thực quanh thành Vaisali và vài tượng khác
* Kinh điển Ngài mang về:
- 224 bộ kinh Đại thừa
- 192 bộ luận Đại thừa
- 15 bản của phái Thượng tọa
- 15 bản của phái Đại chúng
- 15 bản của phái Chánh lượng
- 22 bản của phái Di-sa-tắc
- 17 bản của phái Ca-diếp-tỉ-la
- 42 bản của phái Pháp mật
- 67 bản của phái Nhất thiết hữu
- 36 bộ Nhân minh luận
- 13 bộ Thanh minh luận
Tổng cộng 520 hòm có 675 cuốn, phải dùng 20 ngựa để mang.

Ngài ra đi vào tháng 4 niên hiệu Trinh Quán thứ 3 (629 sau kỷ nguyên), vào lúc 26 tuổi, từ Tràng An cho đến Vương-xá, đã đi hơn 8.333 dặm Anh (khoảng 10.000 km), mất tất cả 17 năm trước khi về đến Trung Quốc.

Truy cập